NÓI VỀ
MIỀN NAM
Sơn
Nam
7. MỘT
NGHỆ THUẬT “TRƯỞNG GIẢ MỚI”
Cách đây 30 năm, ngành cải lương đă từng
bị một số người công kích, cho
rằng:cải lương tức là nghệ thuật
bị phản bội. Số người công kích ấy so
sánh cải lương và hát bội rồi đi
đến kêt luận:
Tuồng hát
bội được bố cục chặt chẽ,
diễn viên tập luyện công phu, nội dung dồi dào ư
nghĩa. Trong khi đó, tuồng cải lương nghèo nàn
về nội dung.
Hát bội là ngành
sân khấu cổ truyền, nên ǵn gữ đừng cho
mất gốc. Dầu sao đi nữa, cải lương
cũng vẫn không tiêu biểu cho nền ca kịch
nước nhà; xem cải lương tức là xem những
tṛ xốn mắt của đám trẻ theo Tây học.
Họ sửa đổi nhiều điểm nhưng
rốt cuộc, nghệ thuật của họ thua xa hát
bôi. Lối tŕnh diễn của cải lương rất
lai căng, đầu Ngô ḿnh Sở, lai Tàu lai Tây...
Hai ba chục
năm sau, cải lương nghiễm nhiên thâu phục bao
nhiêu cảm t́nh của khán giả. Ngành hát bội thu
hẹp dần dần, được khia thác,
được quản trị theo qui mô tiểu công
nghệ, gia đ́nh. Trong khi đó các đại ban cải
lương có nhiều nhu cầu to lớn hơn về
tổ chức về vốn liếng, chẳng khác một
hăng xưởng. Những nghệ sĩ cải lương
thuộc vào hàng “ăn khách” có thể sống theo nếp
tư sản, trưởng giả của mấy ông
chủ xuất nhập cảng; nào xe hơi mới
nấht, nào hột x̣an, nào nhà lầu. Điểm khác là
vốn liếng của nghệ sĩ được thâu
hẹp trong phạm vi tài năng (dễ hư hao, dễ
sụt giá) trong khi đó vốn liếng của các ông
chủ xuất nhập cảng được bảo
đảm tương đối hơn.
Ở nước
ta, đă có ngành thống kê.
Chúng tôi đă t́m
kiếm những con số về ngành nhưng chưa
gặp. con số ấy chắc là khá to, quá mức
tưởng tượng. Mỗi đêm, ở mềin Nam,
tính trung b́nh có bao nhiêu đ̣an cải lương tŕnh
diễn? Họ thâu vào bao nhiêu tiền, xuất ra bao nhiêu? Và
tính trung b́nh, mỗi tháng một người dân, một gia
đ́nh xem cải lương mấy lần? Sanh họat
củacác đ̣an hát cải lương dính líu mật
thiết với ngành thương măi khác như thế nào?
Chúng tôi tin
rằng số khán giả cải lương thật quá
đông. Nhiều đ̣an hát ế giàn nhưng trong vài ngày nào
đó, khán giả đến tràn ngập, giá vé phải bán
chợ đen.
Cải
lương là một lực lượng văn nghệ, có
tác dụng phổ biến mạnh. Tuồng hát
được trực tiếp truyền thanh qua làn sóng
điện của đài páht thanh, được thâu
đĩa, in thành tập sáhc bài ca b́nh dân và trở thành
tiếng ru em trong gia đ́nh, tiếng ca chèo ghe trên sông
nước ở tận thôn xóm hẻo lánh.
* * *
Vài người nói với giọng
“ưu thời mẫn thế”, “tha thiết với văn
hóa” rằng: Cải lương là nghệ thuật... chẳng ra nghệ
thuật. Nó thuộc vào lọai “hạ cấp”, “b́nh dân ngân
hàng”, lời lẽ tuồng cải lương rất ngô
nghê, động tác diễn xuất của đào kép cải
lương lại thô kịch lố lăng.
Chưa hết!
C̣n những luận điệu trơ tráo phản dân
chủ chứng tỏ người thốt ra là kẻ
lạc hậu, thuộc phe Bảo Hoàng: “Đào kép cải
lương ít ăn học, đa số xuất thân là... dân chăn trâu, hoặc
gái ở mướn, gái cấy lúa, nghĩa là thiếu ḍng
máu “ḥang tộc” hoặc “thực dân” chảy trong huyết
quản”?
Và c̣n những
bằng cớ về tŕnh độ học lực kém
thấp của sọan giả, của đạo diễn
(v́ đa số không có bằng cấp “đít lôm” chăng?)
. Hoặc họ không biết nói tiếng Pháp, tiếng Anh?
Ng̣ai ra, nhiều
người “hạ giá” ngành cải lương, xuyên qua
những tin vắn dài trong nhựt báo: nào đào kép đánh
lộn, hút á phiện, đổi thay t́nh chồng nghĩa vợ
như cơm bữa. Nghĩa là cải lương gây ra
hoặc dung túng những chuyện thiếu đạo
đức!
Các luận
điệu trên đây khác luận điệu hồi 30
năm trước.
Nói rằng
cải lương là hạ cấp, chúng tôi e quá lầm.
Nhiều tuồng cải lương có nội dung khá cao,
nào kém tuồng xi nê lọai B hoặc tiểu thuyết xă
hội t́nh cảm. Khán giả cải lương rất
khó tánh, muốn sọan ra một tuồng để
“hốt bạc” đâu phải dễ. Hát quá dở, khán
giả phản đối công khai, hoặc bỏ về,
đồn đải. Nh́n vào thực tế, chúng ta
thấy số khán giả cải lương bao gồm
mọi giới mọi ngành. Người thuộc vào
từng lớp trí thức xem hát đâu phải ít: nào bác
sĩ, kỹ sư, giáo sư, sĩ quan cao cấp.
Điều
kiện cấp bằng nêu ra đối với nghệ
sĩ sân khấu dường như không hợp lư. Nghệ
sĩ sân khấu cần có công phu luyện tập và khả
năng thiên phú. Có bằng cấp càng tốt, nếu
thiếu cũng chẳng hại bao nhiêu. Các tài tử
nổi danh ở Âu mỹ, có học, có bằng cấp
nhưng đấy chỉ là tŕnh độ trung b́nh
hoặc hơi thấp so với dân chúng trong nước
họ.
Trong ngành cải
lương, muốn thành công, trở thành đào kép chánh,
chẳng đi quanh về tắt hoặc “nhảy dù”
được đâu mà ḥng; tuổi nghề ít nhứt là 8
năm hoặc 10 năm th́ mới đạt
được, nếu người ấy có sẵn chân
tài!
Về tŕnh
độ sọan giả, chúng ta thấy rằng đa
số người nổi danh đều có “một cái ǵ”
mới đứng làm ṇng cốt cho đ̣an hát
được.Nhiều tuống tích ‘ngọai lai”, với
nhiều lớp vọng cổ, khiến vài
khán giả
bực ḿnh. Số khán giả khó tánh nầy căn cứ
vào tiêu chuẩn thọai kích Tây Phương để phê
phán kỹ thuật cải lương. Nhưng thọai
kịch là thọai kịch, cải lương là cải
lương. Xem cải lương là xem hát, lẽ dĩ
nhiên giọng hát chiếm một địa vị quan
trọng. Ta không nên mơ ước rằng một ngày
tươi sáng nào đó, thọai kịch sẽ đánh
đuổi, thay thế cải lương... theo đà
“tiến hóa”. Ngày ấy chẳng bao giờ đến
cả! Nhiều kư giả viết bài phê b́nh từ năm
1950 cho rằng trong vài năm nữa là cải lương
tan ră. Nhưng đến nay, nếu có đ̣an cải
lương ră, đổ nợ là v́ lư do quản trị
chớ không phải v́ cải lương đă bị
quảng đại đồng bào đả đảo,
đ̣i hỏi thọai kịch.
Nhưng thọai
kịch Hy Lạp, Anh, Pháp... vẫn thích nghi với ngôn
ngữ địa phương. Có kẻ chê cười:
“Ḥang tử Ai Cập... làm sao biết ca cọng
cổ? Thời Cổ ai Cập làm ǵ có vọng cổ!
Kẻ ấy tại sao không lên tiếng chê Racine, chê
Shakespeare v́ ông nầy đă bắt buộc người La
Mă nói tiếng Anh hoặc người Hy Lạp nói tiếng
Pháp? Nếu nậhn định như vậy, làm sao có
nghệ thuật? Làm sao nghệ thuật gắn liền được
với khán giả, với dân tộc?
Cách đây
chừng 10 năm hoặc 20 năm, bao nhiêu tiện nghi, bao
nhiêu món ăn vật chất hoặc tinh thần thứ
“ngon” đều nằm trong tay một số người gọi
là trưởng giả. Sau Đệ nhị thế
chiến, quá nhiều sản phẩm vật chất, tinh
thần – nhắm cung ứng cho từng lớp
trưởng giả - được các cường
quốc xuất cảng dồn dập qua các dân tộc chậm
tiến.
Dồi phấn,
thoa son, đi guốc cao gót, mặc áo ny lông ,uốn tóc
ngắn... đâu c̣n là
đặc quyền của thiểu số. Sắm máy thâu
thanh, xem điện ảnh, đọc báo, đọc
tuần san là điều mà ai cũng hưởng
được, dầu là anh phu đạp xích lô hoặc
chị gánh nước. Mặc áo sơ mi, đi giày,
thắt cà vạt, chào nhau bắt tay “bủa xua” đâu c̣n
là đặc quyền, là dấu hiệu của giới
thượng lưu ở thành thị. Bộ mặt nông
thôn cũng thay đổi khá nhiều.
Vai tṛ củap
hụ nữ ngày nay trở thành quan trọng. Bà nội
trợ có quyền đi dạo phố, xem báo, xem tiểu
thuyết, quyết định việc mua sắm quần
áo, bàn ghế, báo chí torng gia đ́nh. Các bà đ̣i xem hát,
ngồi bên cạnh chồng. Dân chủ tức là đàn bà
được ngang hàng với đàn ông, ngang hàng về
tinh thần, về thưởng thức nghệ thuật,
về phê b́nh nghệ thuật.
Sống trong trào
lưu trưởng giả nầy, nói chung, mọi
người chúng ta đều cố gắng để ra
vẻ trưởng giả chút ít cho kịp với thiên
hạ.Sự cố gắng ấy khiến các nghệ
sĩ và chúng ta “bê bối”, v́ làm vô tiền một
đồng mà xài ra đến một đồng
rưỡi. Nếu nghệ sĩ cải lương mang
nhiều tật bê bối th́ đó chỉ là phản
ảnh của ḥan cảnh chung trong xă hội. Khi một
văn sĩ Việt Nam cố đóng vai tṛ của Sartre,
Camus, khi một thương gia Việt Nam học đ̣i
vẻ mặt hơi lạnh của vua dầu lửa
Rockfeller... th́ một cô đào trẻ ăn khách cũng
vay nơi để vươn lên, đi xe Huê Kỳ,
tặng chữ kư, tặng ảnh, vẫy ngón tay đem
hột x̣an để chào mừng khán giả mộ
điệu bốn phương, và nở nụ
cười của Liz Taylor hoặc công chúa Margaret!
Để đáp
ứng nhu cầu mới mẻ ấy, từ 10 năm qua,
ngành cải lương đă thay h́nh đổi dạng rơ
rệt, lột thêm một lần xác để bơi lội
trong một lọai không khí Trưởng giả mới.
V́ không nhận
thấy sự tất yếu ấy nên nhiều
người đứng tuổi đă than phiền, cho
rằng cải lương 1965 đă thụt lùi, so với
cải lương hồi thời Năm Châu – Phùng Há.
Ngày nay, mỗi
người b́nh dân đều phải thở không khí
trưởng giả, khóac lấy nếp sống
trưởng giả để giao thiệp, t́m sanh kế.
Mỗi người đều ôm ấp giấc mộng
trưởng giả.
Số
người trưởng giả bị lạm phát! Đó
là điều đáng mừng hay là đáng buồn? Số
nghệ sĩ cải lươngcg đă bị lạm phát
v́ sự đ̣i hỏi về cải lương của
quần chúng càng ngày càng mạnh.
Người Trưởng giả mới, ngày nay khác với
người Trưởng giả cũ thời Pháp
thuộc (tức là các ông công chức cao cấp, các ông
điền chủ, đốc phủ sứ già).
Cải
lương của thời buổi nầy đảm
nhiệm vai tṛ khó khăn, phức tạp. tuồng cải
lương, cách diễn xuất hồi thời vàng son
của Năm Châu – Phùng Há đă trở nên tù túng. Lớp
người “trưởng giả mới” sau Đệ
nhị thế chiến đă đọc tiểu thuyết
phiêu lưu, xem phim ái t́nh cuồng nhiệt, ao ước
cuộc sống không biên giới, mang bịnh du lịch
xuất ngọai để viếng thăm cảnh xa
lạ. Họ muốn thu thập một sự hiểu
biết bách khoa, quán thông kim cổ, từ Đông sang Tây... họ muốn biết nếp sông ở Trung
Hoa, Nhựt Bổn , Mông Cổ, Ấn độ. Họ ao
ước thả hồn vào ḥang cung Ba Tư, dạo
chơi trên hè phố La Mă, hái cánh hoa anh đào bên Phú Sĩ
Sơn, với người yêu. Và họ rất thèm yêu.
Nhưng trong khi ôm ấp giấc mộng hữu lư ấy,
họ c̣n bận bịu nhiều vấn đề khác. Con
cái của họ đang “nổi lọan” đ̣i nhảy
túyt, vợ con họ đ̣i quyền dân chủ, đ̣i
quyền hưởng thụ trong gia đ́nh và phô
trương ng̣ai xă hội. Sống cách nào bây giờ?
Tiền bạc đâu? Nhức đầu quá! Làm sao giữ
đạo lư?
Cải
lương miền Nam ngày nay theo kịp sự đ̣i
hỏi đó. Các tuồng tích được bố trí
mới mẻ hơn, trữ t́nh hơn, không câu nệ h́nh
thức: nào tuồng Ai cấp, nào utồng Ba Tư, nào . .
con sen “trưởng giả” hoặc chị bán chè
đậu “trưởng giả” trên sân khấu, biết
nói “vâng, chào ông” với khách hàng.
Cải
lương đáp ứng kịp thời cảm quan
củap hụ nữ. thời xưa, tuồng tích chỉ
viết để đáp ứng cảm quan phiến
diện của bọn mày râu, như vậy là thiếu dân
hcủ. Ngày nay, các tuồng tích đă khia thác những
“miếng” ăn khách, trữ t́nh, đánh trúng tâm lư phái
yếu, v́ phái yếu là số khán giả uqyết
định cho sự thành công hoặc sự găy đổ
về tài chánh của đêm hát.
Ngành Cải
lương vẫn duy tŕ được dân tộc tính,
nếu chưa phát huy. Khán giả rất công bằng;
họ dễ dăi về h́nh thức nhưng khác khe về
nội dung. Nước ta, từ ngàn xưa, vẫn theo
truyền thống tam giáo, nhứt là ảnh hưởng
của văn hóa phật giáo mà tiến lên. Nhân vật trong
vở tuồng dầu lố lăng, đánh gươm
Nhựt, nhảy mạm bô hoặc mặc áo sơn
cước, thổi c̣i ở miền Bắc Cực... đều có thể tha
thứ, chấp nậhn theo tinh thần dân chủ,
trưởng giả. Điều quan trọng là nhân vật
chánh, nhân vật phụ ấy phải được
giải quyết ở màn chót theo tinh thần Trí, Bi,
Dũng, theo luật quả báo của Phật giáo, bất
luận họ ở nước nào, thời nào.
Đứng
về phương diện ấy mà xét, chúng ta thấy rơ:
tiền đồ của cải lương c̣n sáng
lạn. Tuy mang h́nh thức, ngôn ngữ, ư phục phức
tạp nhưng cải lương có thể gần dân
tộc. Các bà bầu gánh, các nghệ sĩ, các sọan
giả dầu muốn hay không đều phải ép ḿnh,
chan ḥa vào t́nh cảm dân tộc, vào giáo lư Phật giáo.
Phật giáo là phép mầu, dung ḥa mọi mâu thuẩn,
chỉ nẻo cho con người thóat khỏi những
cảnh ngộ éo le, khó xử nhứt.
Nếu thóat
khỏi luân lư ấy, cải lương sẽ là cái xác
không hồn, là vở tuồng... Ba Tư mà khán giả Ba Tư
và khán giả Việt Nam đều chê!
Ngày ấy
chắc không bao giờ có.
3/2007